Đấu thầu Mua săm công

Bình chọn

Theo bạn thông tin nội dung website thế nào ?

Phong phú đa dạng
Dễ sử dụng
Hữu ích

34 người đã tham gia bình chọn

Thống kê truy cập

Số lượng và lượt người truy cập

  • Online 3

  • Hôm nay 652

  • Tổng 2.360.425

Con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Việt Nam hiện nay

Post date: 18/05/2026

Font size : A- A A+

 

Trong dòng chảy lịch sử hiện đại của dân tộc Việt Nam, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là sự lựa chọn mang tính lịch sử, chính trị và thời đại của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Đó không chỉ là mục tiêu chiến lược lâu dài mà còn là kết quả của quá trình tìm tòi, khảo nghiệm thực tiễn và phát triển lý luận suốt gần một thế kỷ cách mạng. Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; đồng thời không ngừng bổ sung, phát triển nhận thức lý luận về mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa, về thời kỳ quá độ và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Trong bối cảnh thế giới biến động sâu sắc, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, chủ nghĩa xã hội hiện thực ở nhiều nơi gặp khó khăn, song Việt Nam vẫn kiên định con đường đã lựa chọn. Thành tựu gần 40 năm đổi mới đã khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đồng thời tiếp tục làm sáng tỏ hơn những vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

I. QUAN ĐIỂM NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG VỀ CON ĐƯỜNG ĐI LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Ngay từ khi thành lập năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định rõ con đường phát triển của cách mạng Việt Nam là “làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Đây là tư tưởng nền tảng thể hiện tầm nhìn chiến lược của lãnh tụ Hồ Chí Minh và Đảng ta: giải phóng dân tộc không phải là mục tiêu cuối cùng, mà là tiền đề để tiến lên xây dựng một xã hội mới – xã hội xã hội chủ nghĩa.

Trong suốt tiến trình cách mạng, dù trải qua chiến tranh, bao vây cấm vận hay những biến động quốc tế lớn lao, Đảng ta chưa bao giờ dao động về mục tiêu xã hội chủ nghĩa. Điều đó xuất phát từ nhận thức sâu sắc rằng: chỉ có chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm độc lập dân tộc thực sự, đem lại tự do, ấm no, hạnh phúc cho nhân dân; khắc phục áp bức, bóc lột và bất công xã hội.

Tuy nhiên, Đảng không tiếp cận chủ nghĩa xã hội theo tư duy giáo điều, máy móc. Trái lại, quá trình lãnh đạo cách mạng cho thấy tư duy của Đảng luôn vận động, đổi mới và phát triển trên cơ sở tổng kết thực tiễn Việt Nam và tiếp thu tinh hoa lý luận của nhân loại. Đó là sự kết hợp giữa tính kiên định về mục tiêu và tính sáng tạo về phương pháp, bước đi, mô hình phát triển.

Ngày nay, Đảng xác định rõ: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là quá trình cải biến cách mạng sâu sắc, toàn diện, lâu dài và phức tạp; phải trải qua thời kỳ quá độ với nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen; vừa xây dựng vừa bảo vệ Tổ quốc; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng.

II. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC CỦA ĐẢNG VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI QUA CÁC KỲ ĐẠI HỘI

1. Giai đoạn hình thành nhận thức và xác lập mục tiêu xã hội chủ nghĩa

Trong thời kỳ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nhiệm vụ trọng tâm của cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc. Tuy vậy, Đảng đã sớm xác định độc lập dân tộc phải gắn với chủ nghĩa xã hội. Sau khi giành được chính quyền, đặc biệt từ năm 1954 ở miền Bắc, Đảng bắt đầu trực tiếp lãnh đạo công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Lao động Việt Nam, Đảng xác định cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc giữ vai trò quyết định nhất đối với sự phát triển của cả nước. Đại hội lần đầu tiên đề cập tương đối toàn diện đến mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, nhấn mạnh phát triển công nghiệp, cải tạo quan hệ sản xuất và xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, trong điều kiện lịch sử lúc bấy giờ, nhận thức về chủ nghĩa xã hội chịu ảnh hưởng khá lớn từ mô hình kế hoạch hóa tập trung của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu. Điều này dẫn tới những hạn chế nhất định trong tổ chức quản lý kinh tế, chưa phát huy đầy đủ động lực của sản xuất và sáng tạo xã hội.

2. Giai đoạn sau thống nhất đất nước và những tìm tòi đổi mới tư duy

Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975 và Thống nhất đất nước Việt Nam, cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam xác định đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội.

Song thực tiễn cho thấy mô hình quản lý tập trung quan liêu bao cấp bộc lộ nhiều hạn chế: sản xuất trì trệ, đời sống nhân dân khó khăn, nền kinh tế lâm vào khủng hoảng. Chính thực tiễn đó đã thúc đẩy Đảng ta từng bước đổi mới tư duy lý luận.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Đây là bước ngoặt lịch sử trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Đảng thừa nhận những sai lầm trong cơ chế quản lý cũ, chuyển sang phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.

Đổi mới không phải là thay đổi mục tiêu xã hội chủ nghĩa, mà là làm cho chủ nghĩa xã hội được nhận thức đúng hơn, xây dựng hiệu quả hơn và phù hợp hơn với thực tiễn Việt Nam.

3. Hoàn thiện dần nhận thức về mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam là dấu mốc mở đầu công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, đồng thời đánh dấu bước chuyển căn bản trong tư duy lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội.

Đại hội VI chưa đưa ra hệ thống đặc trưng hoàn chỉnh của xã hội xã hội chủ nghĩa, nhưng đã có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi:

- Khắc phục tư duy giáo điều, chủ quan, nóng vội;

- Thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa;

- Chấp nhận nền kinh tế nhiều thành phần;

- Đề cao việc tôn trọng quy luật khách quan;

- Chuyển từ tư duy “xóa bỏ thị trường” sang “sử dụng thị trường”.

Đây là bước chuyển từ nhận thức mang tính mô hình cứng nhắc sang nhận thức thực tiễn, biện chứng và phù hợp hơn với điều kiện Việt Nam.

Bước phát triển lý luận có ý nghĩa nền tảng diễn ra tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản Việt Nam khi Đảng thông qua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”.

Lần đầu tiên, Đảng xác định tương đối toàn diện mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà Nhân dân Việt Nam xây dựng với sáu đặc trưng cơ bản:

- Do nhân dân lao động làm chủ;

- Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu;

- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

- Con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công;

- Các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết;

- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.

Đây là bước phát triển rất quan trọng trong tư duy lý luận của Đảng. Chủ nghĩa xã hội không còn chỉ được nhìn nhận dưới góc độ kinh tế và sở hữu, mà đã mở rộng sang các lĩnh vực dân chủ, văn hóa, con người, quan hệ dân tộc và quan hệ quốc tế.

Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên cơ sở tổng kết 25 năm đổi mới, Đảng ta tiếp tục bổ sung và phát triển Cương lĩnh năm 1991.

Đảng ta xác định xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có tám đặc trưng cơ bản:

- Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh;

- Do nhân dân làm chủ;

- Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp;

- Có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc;

- Con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện;

- Các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển;

- Có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo;

- Có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

So với Cương lĩnh năm 1991, nhận thức của Đảng đã phát triển sâu sắc hơn ở nhiều điểm:

- Đưa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” thành đặc trưng tổng quát của chủ nghĩa xã hội Việt Nam;

- Nhấn mạnh vai trò của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;

- Chuyển từ nhấn mạnh “công hữu” sang “quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp”, phản ánh tư duy linh hoạt và thực tiễn hơn;

- Đề cao quyền con người, hạnh phúc và sự phát triển toàn diện của con người.

Đây là bước hoàn thiện lớn về nhận thức lý luận của Đảng đối với mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam và Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục bổ sung, phát triển nhận thức về các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư, chuyển đổi số, toàn cầu hóa và cạnh tranh chiến lược quốc tế ngày càng sâu sắc.

Đảng ta ngày càng nhấn mạnh:

- Phát triển nhanh và bền vững;

- Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ;

- Phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo;

- Xây dựng con người Việt Nam toàn diện;

- Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc;

- Xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại;

- Hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;

- Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại và hội nhập quốc tế.

Đặc biệt, Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu đưa đất nước bước vào “kỷ nguyên phát triển mới”, thể hiện nhận thức ngày càng sâu sắc của Đảng rằng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không chỉ là mục tiêu chính trị – xã hội, mà còn là mô hình phát triển hiện đại, nhân văn, bền vững và giàu bản sắc dân tộc.

Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về các đặc trưng của chủ nghĩa xã hội phản ánh sự trưởng thành về tư duy lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Từ chỗ tiếp cận chủ nghĩa xã hội chủ yếu bằng mô hình kinh tế và sở hữu, Đảng đã từng bước nhận thức đầy đủ hơn bản chất của chủ nghĩa xã hội là:

- Một xã hội phát triển toàn diện;

- Lấy con người làm trung tâm;

- Kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội;

- Phát huy dân chủ, pháp quyền và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc;

- Chủ động hội nhập nhưng giữ vững độc lập, tự chủ và bản sắc dân tộc.

Đây chính là kết quả của quá trình đổi mới tư duy lý luận một cách khoa học, biện chứng và sáng tạo; đồng thời khẳng định bản lĩnh của Đảng trong việc kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa nhưng không giáo điều, máy móc, mà luôn xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại.

III. GIÁ TRỊ THỰC TIỄN VÀ Ý NGHĨA THỜI ĐẠI

Thực tiễn gần 40 năm đổi mới đã chứng minh sức sống của con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, vị thế quốc tế ngày càng nâng cao.

Quan trọng hơn, thành tựu của Việt Nam đã góp phần bổ sung cơ sở thực tiễn cho lý luận về chủ nghĩa xã hội trong điều kiện mới. Việt Nam không sao chép mô hình có sẵn mà kiên trì tìm tòi một con đường phát triển phù hợp với đặc điểm lịch sử, văn hóa và trình độ phát triển của mình.

Điều đó khẳng định rằng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không phải là một mô hình giáo điều, cứng nhắc mà là một quá trình vận động, phát triển sáng tạo; lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu cao nhất; lấy phát triển bền vững, công bằng và tiến bộ xã hội làm giá trị cốt lõi.

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của lịch sử và Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Qua từng kỳ đại hội, nhận thức lý luận của Đảng về chủ nghĩa xã hội ngày càng hoàn thiện, khoa học và phù hợp hơn với thực tiễn đất nước và xu thế thời đại.

Trong bối cảnh mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vừa đứng trước nhiều thời cơ lớn, vừa đối mặt không ít khó khăn, thách thức. Song với bản lĩnh chính trị vững vàng, sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, cùng khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, Việt Nam có đầy đủ cơ sở để tiếp tục vững bước trên con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Hồ Chí Minh và Nhân dân ta đã lựa chọn.

                                          Hoàng Duy Khiêm

Phó Bí thư thường trực Đảng uỷ xã

More